Đá marble - Đá granite - Đá hoa cương

Ngày nay xu hướng tự nhiên lên ngôi, con người ta dù sống trong căn nhà mình vẫn muốn hòa mình với thiên nhiên, vạn vật. Chính vì thế khi xây nhà người ta thường lựa chọn những vật liệu có nguồn gốc tự nhiên như gỗ tự nhiên, đá, gạch, mây tre đan vv… Trong đó, đá marble - granite - hoa cương được coi là dòng đá có sức ảnh hưởng lớn nhất tới kiến trúc xây dựng và nội thất hiện đại. Hãy cùng tìm hiểu dòng đá đặc biệt này qua bài viết dưới đây nhé!

Dịch vụ từ đá marble - granite - hoa cương

Thi công đá marble - báo giá đá marble

Thi công đá granite - báo giá đá granite

Thi công đá hoa cương - báo giá đá hoa cương

làm mặt đá chậu rửa lavabo
làm đá cầu thang
Thi công đá marble

Thi công đá marble

Thi công đá marble Thi công đá marble tại thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) Bluecons chuyên cung cấp và thi công các loại đá hoa cương, granite, marble, đá nhân tạo solid…
Xem thêm
ốp đá cầu thang máy

ốp vách đá - ốp tường đá - đá ốp bếp - đá ốp tường

ốp tường đá marble - ốp vách đá marblre  - dán vách đá marble - dán tường đá marble

ốp tường đá hoa cương - ốp vách đá hoa cương - dán vách đá hoa cương - dán tường đá hoa cương

ốp tường đá granite - ốp vách đá granite - dán vách đá granite - dán tường đá granite

Bàn ăn bằng đá marble - granite - hoa cương


bàn ăn bằng đá marble - mặt bếp đá marble - quầy bar đá marble - quầy lễ tân đá marble - lát nền đá marble - lót sàn đá marble - ốp đá marble bật tam cấp - ốp cấp đá marble

bàn đảo đá marble - ốp đảo bếp bằng đá marble - đá marble tranh - đá marble tranh trang trí

bàn ăn bằng đá hoa cương - mặt bếp đá hoa cương - quầy bar đá hoa cương - quầy lễ tân đá hoa cương - lát nền đá hoa cương - lót sàn đá hoa cương - ốp đá hoa cương bật tam cấp - ốp cấp đá hoa cương

bàn đảo đá hoa cương - ốp đảo bếp bằng đá hoa cương - đá hoa cương tranh - đá hoa cương tranh trang trí

bàn ăn bằng đá granite - mặt bếp đá granite - quầy bar đá granite - quầy lễ tân đá granite - lát nền đá granite - lót sàn đá granite - ốp đá granite bật tam cấp - ốp cấp đá granite

bàn đảo đá granite - ốp đảo bếp bằng đá granite - đá granite tranh - đá granite tranh trang trí

bàn ăn cao cấp

bàn ăn cao cấp

Bàn ăn cao cấp Bàn ăn cao cấp Trong xu hướng nội thất hiện đại ngày nay việc chọn chất liệu đá để làm bàn ăn và mặt bếp là không thể thiếu trong căn…
Xem thêm
Bàn ăn đẹp

Bàn ăn đẹp

Bàn ăn đẹp Bàn ăn đẹp Trong xu hướng nội thất hiện đại ngày nay việc chọn chất liệu đá để làm bàn ăn và mặt bếp là không thể thiếu trong căn hộ…
Xem thêm
Bàn ăn bằng đá

Bàn ăn bằng đá

Bàn ăn bằng đá Bàn ăn bằng đá Trong xu hướng nội thất hiện đại ngày nay việc chọn chất liệu đá để làm bàn ăn và mặt bếp là không thể thiếu trong…
Xem thêm

Lát nền đá - đá lát sàn ốp nền

Ốp đá cầu thang - thi công đá cầu thang - đóng cầu thang đá

ốp cầu thang đá marble - dán cầu thang đá marble - thi công cầu thang đá marble - đóng cầu thang đá marble

ốp cầu thang đá hoa cương - dán cầu thang đá hoa cương - thi công cầu thang đá hoa cương - đóng cầu thang đá hoa cương

ốp cầu thang đá granite - dán cầu thang đá granite - thi công cầu thang đá granite - đóng cầu thang đá granite

ốp đá cầu thang máy - ốp đá thang máy - thi công đá thang máy

ốp đá marble cầu thang máy - ốp đá marble cầu thang - thi công đá marble cầu thang - làm đá cầu thang marble - thi công đá marble cầu thang máy

ốp đá hoa cương cầu thang máy - ốp đá hoa cương cầu thang - thi công đá hoa cương cầu thang - làm đá cầu thang hoa cương - thi công đá hoa cương cầu thang máy

ốp đá granite cầu thang máy - ốp đá granite cầu thang - thi công đá granite cầu thang - làm đá cầu thang granite - thi công đá granite cầu thang máy

ốp đá mặt bếp - làm đá bếp - thi công đá mặt bếp

ốp đá marble mặt bếp - thi công đá marble mặt bếp - làm đá marble mặt bếp

ốp đá granite mặt bếp - thi công đá granite mặt bếp - làm đá granite mặt bếp

ốp đá hoa cương mặt bếp - thi công đá hoa cương mặt bếp - làm đá hoa cương mặt bếp


ốp đá mặt tiền - thi công đá mặt tiền - dán đá mặt tiền

ốp mặt tiền đá marble - dán đá marble mặt tiền - thi công đá marble mặt tiền nhà  - ốp đá marble mặt tiền nhà

ốp mặt tiền đá hoa cương - dán đá hoa cương mặt tiền - thi công đá hoa cương mặt tiền nhà  - ốp đá hoa cương mặt tiền nhà

ốp mặt tiền đá granite - dán đá granite mặt tiền - thi công đá granite mặt tiền nhà  - ốp đá granite mặt tiền nhà

đá hoa cương - đá marble - đá granite tại Sài Gòn - Tphcm

Liên hệ

Địa chỉ liên hệ: Trụ sở chính 499/6/79C Quang Trung, Phường 10, Gò Vấp, Thành Phố Hồ Chí Minh (Tphcm)

Email: Blueconsvn@gmail.com

Hotline: 0906157879

             0932132828 Mr. Việt

Quý khách hàng có nhu cầu về dịch vụ của chúng tôi vui lòng liên hệ trực tiếp số điện thoại, gửi email hoặc ad yalo để hỗ trợ tư vấn.

Chúng tôi cung cấp sản phẩm đá marble - đá granite - đá hoa cương, thiết kế thi công nội thất đá marble - đá granite - đá hoa cương trên khắp các địa bàn các quận Thành Phố Hồ Chí Minh từ quận 1, quận 2, quận 3, quận 4, quận 5, quận 6, quận 7, quận 8, quận 9, quận 10, quận 11, quận 12, quận Gò Vấp, Bình Thạnh, Bình Tân, Tân Bình, Tân Phú, Nhà Bè, Củ Chi, Hóc Môn và các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Vũng Tàu, Cam Ranh – Nha Trang, và các tỉnh miền tây nam bộ.


Tham khảo thêm tính chất đá marble - đá granite - đá hoa cương


Đá Marble là gì? Đặc tính, phân loại và báo giá đá marble


Ngày nay xu hướng tự nhiên lên ngôi, con người ta dù sống trong căn nhà mình vẫn muốn hòa mình với thiên nhiên, vạn vật. Chính vì thế khi xây nhà người ta thường lựa chọn những vật liệu có nguồn gốc tự nhiên như gỗ tự nhiên, đá, gạch, mây tre đan vv… Trong đó, đá marble được coi là dòng đá có sức ảnh hưởng lớn nhất tới kiến trúc xây dựng và nội thất hiện đại. Hãy cùng tìm hiểu dòng đá đặc biệt này qua bài viết dưới đây nhé!

 

Đá marble

Đá marble là gì?

Đá marble hay còn được gọi là đá cẩm thạch, đá hoa là một dòng đá hình thành từ đá vôi, có cấu tạo không phân phiến. Thành phần chủ yếu của marble là gốc canxit – tức CaCO3. Đá marble thường được sử dụng để tạc tượng, trang trí trong nhà và một số ứng dụng khác.

Mật độ canxit trong đá marble quyết định đến tính chất, màu sắc đá. Phần này chúng tôi sẽ trình bày ở dưới.


Đá marble được sử dụng như một vật liệu quan trọng trong các công trình mang biểu tượng văn hóa lớn từ thời cổ đại như Đền thần Zeus, Đền Parthenon vv… Sự sang trọng, xa hoa, biểu trưng cho tính bền vững, sự uy quyền là những gì người ta tìm thấy ở dòng đá đã có hàng ngàn năm tuổi.


Đá cẩm thạch thường được sử dụng để điêu khắc và làm vật liệu xây dựng. Ngày nay, đá marble được sử dụng phổ biến hơn trong kiến trúc xây dựng và nội thất hiện đại như chung cư, nhà phố, biệt thự hay các công trình thương mại.

Tình trạng khai thác

Ở Việt Nam, mỏ đá marble lớn nhất được tìm thấy là ở Yên Bái. Tuy nhiên, đá marble ở đây chủ yếu để xuất khẩu. Nguồn cung cấp đá cẩm thạch chính trong nước là nhập khẩu từ một số nước châu Âu như Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp vv… Ý là nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu đá cẩm thạch với 20% thị phần sản xuất đá cẩm thạch toàn cầu, tiếp theo là Trung Quốc với 16%, Ấn Độ 10%, Tây Ban Nha 6% và Bồ Đào Nha với 5%.


Trong thời gian qua, chuyên mục tư vấn của Bluecons nhận được rất nhiều câu hỏi của bạn đọc xoay xung quanh vấn đề đá marble là đá tự nhiên hay nhân tạo. Nhiều người cho rằng, đá marble là đá nhân tạo vì đá tự nhiên ở thị trường Việt Nam hiện nay chỉ có đá granite mà thôi. Cùng tìm câu trả lời ở những phần tiếp theo của chúng tôi nhé!

Đặc tính nổi bật

Dưới đây là một số đặc tính nổi bật từ dòng đá marble mà bạn nên biết:

  • Vân đá

Mỗi viên đá marble được cắt ra đều là duy nhất, tức là, bạn sẽ không thể tìm thấy hai viên marble có hệ vân giống nhau trên trái đất này. Chính hệ vẫn tự nhiên, mềm mại, sang trọng như một bức họa đấy khiến cho đá marble đánh bật đá hoa cương, trở thành vật liệu được yêu thích nhất trong các không gian hiện đại.

  • Màu sắc

Đá marble đa dạng về màu sắc. Ngoài ba màu phổ biến nhất là trắng, kem và đen thì marble còn có màu sắc khác như tím, xám, xanh, vàng, hồng, trắng vv… phù hợp với nhiều phong cách kiến trúc khác nhau như hiện đại, cổ điển, tân cổ điển vv…


  •  Độ cứng, độ bền

Nếu phải xếp hạng độ cứng của đá marble: Đá hoa cương: kim cương thì tỉ lệ sẽ là 3/7/10. Do hạn chế về độ cứng nên đá marble gây một vài khó khăn trong di chuyển và thi công. Tuy nhiên, trọng lượng riêng thấp nên di chuyển đá cũng dễ hơn.

  • Điều hòa nhiệt độ

Đá marble có tính chịu nhiệt tốt nên được sử dụng để làm đá ốp bếp Tuy nhiên, trong quá trình phối hợp, bạn cần cân nhắc để không tạo ra cảm giác lạnh lẽo, nhàm chán, nhất là đối với khu vực phòng kháchphòng ngủ.

  • Tính chống thấm

Quay trở lại một chút về nguồn gốc của đá marble, chúng có cấu tạo từ đá vôi. Do đó, marble rất dễ tác dụng với axit trong thức ăn hoặc đồ uống và tạo nên những đường vết xấu xí trên bề mặt.

Điều này tạo nên cũng bởi trên bề mặt của đá cẩm thạch thường xuất hiện những vết rỗ nhỏ. Để khắc phục, các đơn vị thi công phải phủ một lớp keo để lấp đầy vết rỗ đó, phủ chất chống thấm lên tất cả các cạnh để tránh tình trạng nước thấm từ các đường ron, thấm ngược trở lên tạo thành vết ố.


Đá marble chống thấm kém hơn đá granite, có thể chuyển màu và dính bụi bẩn dễ gây chuyển màu làm mất đi vẻ đẹp ban đầu.

Ưu nhược điểm

Ưu điểm

  • Sở hữu đường vân mang vẻ đẹp đầy tinh tế và độc lạ
  • Độ cứng cao
  • Chịu nhiệt tốt
  • Thích hợp với điều kiện thời tiết khác nhau
  • Phù hợp với nhiều phong cách thiết kế nội thất

Nhược điểm

  • Do tính thẩm mỹ cao và độc nhất nên đá marble có giá thành khá cao, cao hơn đá granite.
  • Đá marble tự nhiên có đọ cứng và bền khá cao, tuy nhiên do được hình thành từ đá vôi, có tính bột xốp nên đá marble vẫn có độ cứng kém và dễ vỡ trong quá trình di chuyển và thi công

Phân loại

Ở thị trường Việt Nam, phổ biến nhất hiện nay là hai dòng đá marble: đá Marble nhân tạo và đá Marble nhập khẩu (tự nhiên).

Đá marble tự nhiên


Đá marble tự nhiên là kết quả cả đá vôi tinh khiết biến chất. Các vòng xoáy và tĩnh mạch đặc trưng của nhiều loại đá marble có màu thường do tạp chất khoáng khác như oxit sắt, cát, bùn, đất sét hoặc chert vv… mà có. Ví dụ như màu xanh lá cây thường do serpentin, dolostone, tạp chất silic có trong đá vôi mà thành. Những tạp chất khác nhau ấy được kết tinh lại dưới áp suất và nhiệt độ khác nhau mà tạo thành đường vân và màu sắc đặc trưng của đá cẩm thạch.

Đá marble nhân tạo


Đá marble nhân tạo được cấu thành từ hợp chất cao phân tử resin (gồm keo polyester, acrylic, vinyl ester) và các vật liệu gia cường khác như: ATH – aluminum trihydrat, bột đá, chất tạo màu, chất xúc tác và một số phụ gia khác.

Ngày nay, đá marble nhân tạo phổ biến nhất là hai dòng: đá nhân tạo solid surface và đá nhân tạo thạch anh.

  • Đá solid surface gồm 2/3 bột đá tự nhiên + 1/3 keo acrylic + Al(OH)3, vải thủy tinh + phụ gia.
  • Đá thạch anh nhân tạo được tạo ra từ 90% bột thạch anh, cát mịn và phụ gia.

Các hạng mục thi công

Với những ưu điểm về tính thẩm mỹ, độ bền, đá marble được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như:

– Ốp mặt tiền đá marble

Một số công trình kiến trúc không chỉ chú trọng vào độ bền, tính kiên cố mà còn đề cao tính thẩm mỹ phải thế nào cho thật độc đáo, ấn tượng. Sử dụng đá marble để ốp mặt tiền, trong đó có trang trí mặt tiền nhà ống là một trong những lựa chọn thông minh.

Theo các chuyên gia, đá marble có màu nóng (màu đậm) nên để ốp chân tường khá hợp. Những vị trí cao hơn có thể lựa chọn tone màu khác, sao cho hài hòa với kiến trúc ngôi nhà.

Tuy nhiên, bởi tính xốp và chống ẩm kém và dễ phai màu đá marble chỉ ưu tiên sử dụng ở những nơi có mái che, tránh hướng nắng. Bên cạnh đó, mặt sau, cạnh và ron cũng cần xử lí chống thấm tuyệt đối, nhất là các hạng mục ngoài trời.

– Phối màu cho phòng khách đá marble

Cùng với gỗ tự nhiên, đây được coi là vật liệu đắt giá để bạn phô diễn gu thẩm mỹ và phong cách sống của mình. Với đá marble bạn có thể dùng để lát nền hoặc ốp tường. Một số tone màu đá marble phù hợp với không gian này là trắng, kem, vàng, đỏ vv… Những mảng đá cẩm thạch lớn được ốp giữa phòng khách với những đường vân ấn tượng giúp cho căn phòng thêm phần tráng lệ.

– Trang trí phòng tắm với đá cẩm thạch marble

Xu hướng dùng đá cẩm thạch để ốp tường phòng tắm đang nở rộ trong vài năm trở lại đây. Nếu phòng tắm nhỏ, bạn có thể sử dụng đá cẩm thạch cho phần lavabor, kết hợp đèn LED để tạo hiệu ứng thư giãn. Ngoài ra, có thể dùng đá marble cho phần sàn nếu bạn thích.

So sánh đá marble và đá granite

Ngoài đá marble, granite cũng là dòng vật liệu được ưa chuộng trong thiết kế và thi công nội ngoại thất. Không ít người hoang mang trong khi phân biệt hai dòng đá này bởi sự giống nhau đến từ lớp bề mặt. Tuy nhiên mỗi dòng đá đều có một ưu, nhược điểm khác nhau và đây là bảng so sánh:

Có lẽ bài viết trên chia sẻ về đá marble cũng đã phần nào giải đáp được những thắc mắc của độc giả. Để lựa chọn được màu sắc, chủng loại, giá thành phù hợp, bạn nên đến trực tiếp các nhà cung cấp uy tín, hoặc những đơn vị thiết kế kèm thi công trọn gói như Bluecons!
Chúc các bạn thành công!


Đá hoa cương

Đá hoa cương, nguồn gốc tính chất các loại đá hoa cương và granite tự nhiên

Đá hoa cương, còn gọi là đá granit[1] (còn được viết là gra-nít,[2]gờ-ra-nít,[2] bắt nguồn từ từ tiếng Pháp granite /ɡʁanit/),[2] là một loại đá mácma xâm nhập phổ biến có thành phần axít. Đá hoa cương có kiến trúc hạt trung tới thô, khi có các tinh thể lớn hơn nằm nổi bật trong đá thì gọi là kiến trúc porphia hay nổi ban. Đá hoa cương có màu hồng đến xám tối hoặc thậm chí màu đen, tùy thuộc vào thành phần hóa học và khoáng vật cấu tạo nên đá. Các khối đá hoa cương lộ ra trên mặt đất ở dạng khối và có xu hướng tròn cạnh khi bị phong hóa. Đá hoa cương đôi khi xuất hiện ở dạng trũng tròn được bao bọc bởi các dãy đồi được hình thành từ quá trình biến chất tiếp xúc nhiệt hay sừng hóa.

Đá hoa cương hầu hết có cấu tạo khối, cứng và xù xì, và được sử dụng rộng rãi làm đá xây dựng. Tỷ trọng riêng trung bình là 2.75 g/cm3 độ nhớt ở nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn là ~4.5 • 1019 Pa•s.[3]

Khoáng vật học đá hoa cương

Granit được phân loại dựa trên biểu đồ QAPF dùng cho đá granitoit hạt thô và được đặt tên dựa trên phần trăm của thạch anh, fenspat kiềm (Orthoclas, sanidin, hoặc microclin) và plagiocla trên 1/2 biểu đồ A-Q-P. Granit thực thụ theo khái niệm của thạch học hiện đại chứa cả plagiocla và fenspat kiềm. Khi khối granitoit không có hoặc có ít plagiocla thì đá được gọi là granit kiềm. Khi granitoit chứa nhỏ hơn 10% Orthoclas thì được gọi là tonalit; pyroxen và amphibol là khoáng vật phổ biến trong tonalit. Granit chứa cả muscovit và biotit thì được gọi là granit hai mica. Granit hai mica thường có nhiều fenspat kali và ít plagiocla, thường gọi là granit kiểu S hoặc granit kiểu A. Dạng phun trào có cùng thành phần hóa học với granit gọi là ryolit. Granit nguyên thủy có độ thấm sơ cấp thấp nhưng có độ thấm thứ cấp cao.

Thành phần khoáng vật đá hoa cương

Tỷ lệ trung bình của các thành phần khoáng vật trong granit trên thế giới được xếp loại theo phần trăm khối lượng theo thứ tự giảm dần như sau::[4]

  • SiO2 — 72.04%
  • Al2O3 — 14.42%
  • K2O — 4.12%
  • Na2O — 3.69%
  • CaO — 1.82%
  • FeO — 1.68%
  • Fe2O3 — 1.22%
  • MgO — 0.71%
  • TiO2 — 0.30%
  • P2O5 — 0.12%
  • MnO — 0.05%

Dựa trên 2485 kết quả phân tích

Phân bố đá hoa cương

Stawamus Chief là một granit monolith ở British Columbia,Canada

Granit được biết như là loại đá cấu tạo nên phần lớn vỏ lục địa của Trái Đất. Granit thường xuất hiện ở dạng khối tương đối nhỏ, nhỏ hơn 100 km² và trong thể batholith, chúng thường đi cùng với các đai tạo núi. Các mạch nhỏ có thành phần giống granit được gọi là mạch aplit và chúng thường phân bố ở rìa của khối xâm nhập granit. Ở một vài nơi, các khối pegmatit hạt rất thô cũng đi cùng với granit. Granit đã xâm nhập vào lớp vỏ của Trái Đất trong suốt các giai đoạn địa chất, mặc dù đa số trong chúng có tuổi tiền Cambri. Đá granit là đá nền bị phủ bởi hầu hết các đá trầm tích mỏng trong vỏ lục địa.

Ngoài việc phân bố phổ biến trên thế giới, các khu vực được biết đến với các mỏ granit nổi tiếng như: Brasil - Phần Lan - Ấn Độ - Na Uy - Bồ Đào Nha (Chaves - Vila Pouca de Aguiar) - Tây Ban Nha (Galicia - Extremadura) - miền nam châu Phi (Angola - Namibia - Nam Phi - Zimbabwe) - Thuỵ Điển (Bohuslän) - Hoa Kỳ (New Hampshire - Vermont - Minnesota - Bắc Carolina)

Nguồn gốc đá hoa cương

Granit lộ ra ở Chennai, Ấn Độ.

Granit là đá xâm nhập được hình thành từ macma. Mácma granit có thể có nhiều nguồn gốc khác nhau và nó thường là các đá xuyên cắt qua các đá khác. Hầu hết các dạng xâm nhập của granit diễn ra trong lớp vỏ Trái Đất ở độ sâu thường lớn hơn 1.5 kilomet cho đến 50 km trong vỏ lục địa mỏng. Nguồn gốc của đá granit rất đa dạng nên cũng sẽ có nhiều cách phân loại khác nhau. Phân loại theo khu vực theo kiểu Pháp, Anh và Mỹ. Các phân loại này dẫn đến các nhầm lẫn bởi vì chúng được phân loại dựa trên những cách xác định theo nhiều ý nghĩa khác nhau. Các phân loại chung nhất là 'alphabet-soup' được sử dụng nhiều vì chúng dựa trên nguồn gốc của macma.

Nguồn gốc địa hóa đá hoa cương

Các khối granitoit kết tinh từ mácma vì vậy chúng có thành phần gần với điểm eutectic (hay nhiệt độ thấp nhất trên đường cong cotectic). Mácma tiến hóa theo eutectic bởi sự phân dị mácma, hoặc do chúng thể hiện cấp thấp trong một phần mácma nóng chảy. Kết tinh phân đoạn làm giảm hàm lượng sắt, magiê, titan, canxi và natri, và làm giàu kali và silic. Fensapt kiềm (giàu kali) và thạch anh là hai thành phần chính của đá granit.

Quá trình này đề cập đến nguồn gốc của nguồn mácma tạo ra granit, cũng như thành phần hóa học của nó. Tuy nhiên, thành phần và nguồn gốc của mácma tạo granit cũng để lại dấu hiệu về khoáng vật và địa hóa của đá nguồn trước khi tan chảy thành mácma. Thành phần hóa học, cấu trúc và khoáng vật cuối cùng của granit thường khác biệt với nguồn gốc của nó. Ví dụ, granit hình thành từ đá trầm tích nóng chảy có thể có nhiều fenspat kali, trong khi granit kết tinh từ bazan nóng chảy có thể giàu plagiocla. Trên là sự phân loại "alphabet" hiện đại.

Phân loại Alphabet soup đá hoa cương

Chappell và White đề xuất phương pháp này lần đầu tiên để chia granit thành hai loại là granit kiểu I và granit kiểu S hay granit có nguồn gốc từ đá trầm tích[5]. Cả hai loại granit nay đều được hình thành từ sự nóng chảy các đá biến chất cấp cao, hoặc các đá granit hoặc các đá xâm nhập mafic khác, cũng có thể là các đá trầm tích.

Kiểu M hay kiểu manti cũng được xếp loại sau này để chỉ các đá granit kết tinh từ mácma mafic có nguồn gốc chắc chắn là từ manti. Loại này rất hiếm gặp bởi vì rất khó để chuyển từ bazan thành granit thông qua quá trình kết tinh phân đoạn.

Granit kiểu A - hay còn gọi là granit tạo sơn được hình thành bên trên các hoạt động phun trào núi lửa kiểu "điểm nóng" và khác nhau về đặc điểm khoáng vật học và địa hóa. Các loại granit này được hình thành từ sự nóng chảy của phần bên dưới vỏ Trái Đất trong các điều kiện rất khô (không có dung dịch tham gia). Các đá ryolit ở Yellowstone caldera là các ví dụ về đá có thành phần tương tự với granit kiểu A.

Đá granite, quá trình granite hóa

Theo thuyết loại trừ phổ biến trước đây, sự granit hóa chỉ granit được hình thành tại chỗ bởi biến chất trao đổi bằng dung dịch mang đến các nguyên tố như kali và loại bỏ các nguyên tố khác như canxi trong đá biến chất để tạo thành granit. This was supposed to occur across a migrating front. Việc tạo ra granit từ đá biến chất được nung nóng là rất khó, nhưng có thể quan sát quá trình tạo ra đá amphibolit và granulit. Sự granit hóa và tan chảy bởi quá trình biến chất là rất khó nhận biết trừ khi cấu tạo leucosome và melanosome có mặt trong các đá gơnai. Khi đá biến chất bị nóng chảy nó sẽ không còn là đá biến chất mà là mácma, vì vậy các đá thể hiện dấu hiệu chuyển tiếp giữa hai loại đá, nhưng lúc này đá granit không nhất thiết là phải xuyên cắt vào các đá khác. Trong tất cả các trường hợp, sự nóng nảy đá ở dạng rắn cần nhiệt độ cao, và cũng có nước và các chất dễ bay hơi khác có vai trò làm chất xúc tác để làm giảm nhiệt độ hóa rắn của đá.

Dâng lên và tan chảy

Dâng lên và tan chảy tạo ra một lượng lớn granit trong phần trên trong vỏ lục địa, và cũng là đối tượng tranh cãi của các nhà địa chất. Do các cơ chế mà họ đưa ra thiếu các dấu hiện ngoài thực tế, vì họ chỉ dựa chủ yếu trên các giả thuyết từ các số liệu mà họ thu thập được. Có hai giả thuyết chính về sự dâng lên của mácma trong vỏ Trái Đất:

  • (Stokes Diapir): là dạng một khối mácma xâm nhập và phá hủy các đá nằm trên nó
  • Fracture Propagation: mácma dâng lên theo khe nứt (đứt gãy)

Trong hai cơ chế này, Stokes diapir đã được sử dụng trong nhiều năm mà không có lý do nào để thay thế nó. Ý tưởng cơ bản của nó là mácma xâm nhập vào vỏ Trái Đất như là một khối độc lập theo nguyên tắc đẩy nổi. Khi nó xâm nhập lên trên, nó nung chảy các đá xung quanh làm chúng ứng xử theo định luật Newton cho chất lưu và dòng chảy này được bao bọc bởi khối đá mác ma cho phép nó đi qua nhanh hơn mà không bị mất nhiều nhiệt (Weinberg, 1994). Điều này hoàn toàn hợp lý đối với phần bên dưới của vỏ gồm các đá nóng, dẻo, dễ biến dạng, nhưng lại không phù hợp với phần trên của vỏ nơi mà các đá lạnh hơn và giòn hơn. Các đá ở phần trên không dễ biến dạng, khi mácma dâng lên trong ống (pluton), nó phải tốn nhiều nhiệt hơn để nung nóng các đá xung quanh, chúng sẽ bị lạnh và hóa rắn trước khi xâm nhập lên các phần bên trên trong vỏ Trái Đất.

Ngày nay, xâm nhập theo đứt gãy (fracture propagation) là cơ chế được các nhà địa chất sử dụng khi giải thích các vấn đề chính liên quan đến sự di chuyển các khối mácma lớn trong vỏ Trái Đất lạnh và giòn. Mácma dâng lên trong các kênh nhỏ dọc theo hệ thống đứt gãy đã tồn tại trước và mạng lưới các đới căng giãn (chịu ứng suất cắt) đang hoạt động và kết tinh lại giữa các đứt gãy này gọi theo cơ chế tự chèn tạo thành các dyke (Clemens, 1998)[8]. Khi các kênh dẫn này mở ra, thì dòng mácma đầu tiên sẽ chen vào, hóa rắn và tạo một dạng chống mất nhiệt để các mácma sau xâm nhập vào.

Mácma granit phải tạo một không gian cho riêng nó hoặc xâm nhập vào các đá khác để tạo thành các đá xâm nhập, và một số cơ chế tổng quát cũng được đưa ra để giải thích sự có mặt của khác khối batholith lớn:

  • Dừng lại, ở nơi mà granit phá vỡ đá xung quanh và đẩy chúng lên trên khi đó nó di chuyển các khối bên trên vỏ
  • Đồng hóa, ở nơi mà granit tan chảy, tiếp tục đi lên và đẩy các vật liệu bên trên theo đường đi của nó
  • Sự phồng lên, ở nơi mà khối granit phồng lên khi bị ép và tiêm nhập vào vị trí của nó

Hầu hết các nhà địa chất ngày nay đồng ý rằng sự kết hợp của các hiện tượng này có thể sử dụng để giải thích sự xâm nhập của granit, và không phải tất cả các đá granit có thể được giải thích một cách đầy đủ bởi một cơ chế hay theo cơ chế khác.

Phóng xạ tự nhiên đá hoa cương

Granit là nguồn phóng xạ tự nhiên giống như hầu hết các đá tự nhiên khác. Tuy nhiên, một số loại granit có lượng phóng xạ cao có thể gây nguy hiểm. Một số loại granit có hàm lượng Urani khoảng 10 đến 20 ppm. Trong khi đó, các đá mafic khác như tonalit, gabbro hoặc diorit hàm lượng này khoảng từ 1 đến 5 ppm, trong đá vôi và các đá trầm tích thì hàm lượng này thấp hơn. Một số ống dẫn (pluton) granit lớn là nguồn chứa các kênh dẫn cổ hay các tích tụ quặng urani, ở đó urani bị rửa trôi từ granit và pegmatite có lượng phóng xạ cao lắng đọng cùng trầm tích. Granit có thể được xem là có khả năng gây các tai biến phóng xạ tự nhiên, ví dụ như các làng phát triển trên nền đá granit có thể chịu phóng xạ cao hơn các làng ở nơi khác.[9] Các tầng hầm và các phòng được thiết kế trong đất trên nền đá granit trở thành bẫy giữ khí radon, một loại khí hiếm nặng hơn không khí và là sản phẩm phân rã từ urani[10]. Radon can also be introduced into houses by wells drilled into granite[11]. Khí radon tác động mạnh tới sức khỏe, và là nguyên nhân gây ung thư xếp thứ 2 tại Mỹ sau khói thuốc[11].

Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, granit vẫn là nguồn phóng xạ tự nhiên trội hơn khi so sánh với các đá khác. Có rất nhiều tài liệu công bố của các cơ quan khảo sát địa chất trên thế giới có thể truy cập trực tuyến để xem các yếu tố gây nguy hiểm ở các vùng có granit và các nguyên tắc được liên quan đến việc phòng chống sự tích tụ khí radon trong nền nhà và nhà kính.

Một nghiên cứu về granit dùng làm mặt bàn bởi National Health and Engineering Inc of USA [1], được đưa ra vào tháng 11 năm 2008, tuy nhiên nghiên cứu này không tìm thấy một loại đá granit đơn lẻ có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe. Hàm lượng radon và phóng xạ của đá đều nằm bên dưới giới hạn trung bình, và giá trị này rất phở biến ở Mỹ. Dựa trên kết quả thí nghiệm từ khoảng hơn 400 mẫu của 115 loại đá granit làm mặt bàn, các nhà khoa học kết luận being potentially problematic. Các đá được thí nghiệm bao gồm khoảng 80% các loại đá dùng làm mặt bàn trên thị trường tiêu thụ của Mỹ.

Sử dụng đá hoa cương

Đá hoa cương thời Cổ đại

Voi và các chạm trổ trên đá granit; Mahabalipuram, Ấn Độ.

Kim tự tháp đỏ của Ai Cập (thế kỷ 26 trước Công Nguyên), được đặt tên bởi bề mặt đá granit có sắc đỏ nhạt lộ ra trên mặt, là kim tự tháp lớn thứ 3 ở Ai Cập.. Kim tự tháp của Menkaure, cũng cùng tuổi với kim tự tháp trên, được làm từ các khối đá vôi và granit. Kim tự tháp lớn của Giza (2580 TCN) chứa một cái quan tài lớn bằng granit được trang trí bằng "granit đỏ Aswan". Kim tự tháp đen bị phá hủy gần như hoàn toàn cùng thời với Amenemhat III, khi đó được làm bằng granit được đánh bóng, ngày nay được trưng bày tại sảnh chính của Bảo tàng Ai Cập tại Cairo (xem Dahshur). Ngoài ra, người Ai Cập cổ đại còn dùng granit làm cột, giá cửa, ngạch cửa, chốt cửa, tường và lót nền nhà.[12] Làm thế nào họ lấy được các khối granit mà vẫn còn nguyên vẹn. Tiến sĩ Patrick Hunt[13] giả thuyết rằng người Ai Cập sử dụng emery có độ cứng cao hơn độ cứng trong thang độ cứng Mohs.

Các ngôi đền Hindu lớn ở miền Nam Ấn Độ, được xây dựng vào thế kỷ 11, thời vua Rajaraja Chola I, cũng được làm bằng granit. Khối lượng granit được sử dụng rất nhiều trong các kiến trúc này và có thể so sánh với Kim tự tháp lớn của Giza.[14]

Đá hoa cương ngày nay

Granit được sử dụng rộng rãi ở dạng đá khối và lót nền trong các tòa nhà công cộng và thương mại, và làm bia tưởng niệm. Granit được sử dụng làm móng nhà rất phổ biến ở New England. Đường sắt granit,là đường sắt đầu tiên tại Mỹ được xây dựng từ khối lượng lớn granit được khai thác từ các mỏ đá ở Quincy, Massachusetts, đến sông Neponset vào thập niên 1820. Cùng với sự gia tăng mưa axít ở một số nơi trên thế giới, granit bắt đầu thay thế đá hoa, một loại đá từng được ưa chuộng trên thế giới. Granit được đánh bóng cũng là loại đá phổ biến được chọn để làm mặt bàn trong nhà bếp do nó đạt chất lượng về độ bền và đẹp.

  • đá hoa cương Azul Noche (Tây Ban Nha)   đá hoa cương Santa Cecilia (Brasil)
  •   đá hoa cương Gran Violet (Brasil)
  •   đá hoa cương Lavanda Blue (Brasil)

Bê tông với một lượng lớn cát sẽ có bề mặt gồ ghề giống như granit, và thường được sử dụng làm vật liệu thay thế granit. Một lượng granit khổng lồ được dùng trong xây dựng đường sắt Haytor Granite Tramway, Devon, England, năm 1820. Các đá curling có đường nét cong là loại đá trang trí truyền thống được làm bằng granit Ailsa Craig. Các đá đầu tiên được làm vào thập niên 1750, lấy từ Ailsa Craig ở Scotland. Do granit loại này rất hiếm nên giá của nó khoảng 1,500 USD. Khoảng 60–70% các đá được sử dụng ngày nay có nguồn gốc từ granit Ailsa Craig, mặc dù đảo này đã trở thành khu bảo tồn thiên nhiên và không còn hoạt động khai thác đá.[15]

Nửa vòm đá bị cắt bởi băng, Yosemite, là một vòm granit cổ và là vách đá dùng để leo núi

Vách giả đá hoa cương

Đỉnh granit thuộc dãy Torres del Paine ở Patagonia, Chile

Granit là một trong những đá được các nhà leo núi chọn lựa vì nó không có bậc, vững chắc, hệ thống khe nứt, masát. Các nơi có vách đá bằng granit nổi tiếng dùng để leo như Yosemit, Bugaboos, dãy núi Mont Blanc (gồm các đỉnh như Aiguille du Dru, Aiguille du Midi và Grandes Jorasses), Bregaglia, Corse, các phần của Karakoram, dãy Fitzroy, Patagonia, đảo Baffin, Cornish coastvà Cairngorms.

Vách đá granit cũng có thể làm nhân tạo như trong các phòng tập thể dục và các công viên trò chơi trông có cảm giác giống như granit. Hầu hết chúng được làm bằng vật liệu tổng hợp vì granit thật rất nặng nên không dùng để dán lên các vách tường tập leo, cũng như trong các tòa nhà có tường cố định.

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ với chúng tôi, Bluecons hân hạnh phục vụ các bạn 24/7

0906157879 – Viet 


Chat Facebook
  • Chào bạn!

  • Bạn cần chúng tôi tư vấn hoặc hỗ trợ thông tin gì ạ?

  • Chat ngay
error: Content is protected !!